20세기 전반 한국 · 베트남 세태소설 비교 연구 : 박태원의 『천변풍경』과 또호아이의 『그들의 고향』을 중심으로
저자
발행사항
서울 : 韓國外國語大學校 大學院, 2019
학위논문사항
학위논문(박사) -- 韓國外國語大學校 大學院 , 비교문학과D , 2019. 2
발행연도
2019
작성언어
한국어
주제어
DDC
809 판사항(22)
발행국(도시)
서울
기타서명
A comparative study on Korean and Vietnamese novels of manners : focusing on Park Taewon’s ChunByunPoongKyung and To Hoai’s Que Nguoi
형태사항
199 p. ; 26 cm
일반주기명
한국외국어대학교 논문은 저작권에 의해 보호받습니다.
지도교수: 전혜경
참고문헌: p. 186-193
UCI식별코드
I804:11059-200000182337
소장기관
A Comparative study on Korean and Vietnamese Novels of Manners : Focusing on Park Taewon’s ChunByunPoongKyung and To Hoai’s Que Nguoi
Park Taewon’s ChunByunPoongKyung (1938) and To Hoai’s Que Nguoi (1941) are the novels of manners that address various aspects of everyday life of Korean and Vietnamese people in the 1930s. The novel of manners shows how cultural customs in a specific period change, in order to illustrate sociocultural distinctiveness throughout eras to future generations. This thesis examines the similarities and differences between Park Taewon’s ChunByunPoongKyung, and To Hoai’s Que Nguoi in terms of manners and social conditions, and compares and analyzes Korean and Vietnamese manners and social conditions in the 1930s, as depicted by each novel.
The two novels are examined in terms of characters, backgrounds, plots, techniques, and themes. The final chapter compares manners and social conditions as they are illustrated in each text.
In terms of characters, both novels reflect the realities of society where traditional jobs and new jobs are mixed through various characters, 80 and 50 respectively. In terms of female characters, ChunByunPoongKyung shows women following traditional ethics and enduring misfortune. On the other hand, women in Que Nguoi choose their own fates, which results from the old feature of the Vietnamese society where women’s status and roles at home are equal to those of men.
In terms of backgrounds, ChunByunPoongKyung deals with one year in Chunbyun, Seoul in the 1930s, while Que Nguoi depicts three years in the handcraft town outside Hanoi. Both novels show spaces for meetings and exchange of information. The space in ChunByunPoongKyung is separate between men and women. In Que Nguoi, men and women share the open space, which reflects the Vietnamese society where women`s free commerce is possible.
While ChunByunPoongKyung utilizes eight picaresque plots and Que Nguoi only three sequential plots, both novels deal with the fall of traditional industries, rural exodus, harmful effects of early marriage from the patriarchal system, and efforts to overcome difficulties. In ChunByunPoongKyung, family relationships can be kept at the sacrifice of women. However, in Que Nguoi, women’s adultery destroys family relationships.
In terms of narrative techniques, both novels focus on external description and use spoken expression in dialogues between characters in order to objectively represent characters’ everyday lives. ChunByunPoongKyung is a novel that features its camera technique. The narrator’s camera travels around the space freely, so fast rhythm is conveyed. On the other hand, in Que Nguoi, there is a monotonous, slow rhythm due to many flashbacks, descriptions, and explanations of manners.
In terms of themes, both novels point out harmful effects of bad customs, including early marriage from the feudal patriarchal system in the Korean and Vietnamese society at that time. The main theme of ChunByunPoongKyung is working class solidarity and humanity, and that of Que Nguoi family bonds and family love for overcoming difficulties.
Last chapter of this thesis classifies Korean and Vietnamese manners and social conditions in the 1930s that the two novels show into the categories of food, shelter and clothes, marriage, funeral, birth, new year’s custom, folk game, and folk religion. ChunByunPoongKyung shows how the modern culture penetrates lives of the working class in Seoul, and how life there evolves. Que Nguoi also shows that the life of working class outside Hanoi still keeps traditional customs despite a shift into the modern society. This thesis finds that both novels are great cultural landscapes which reflect realities of societies at that time.
As mentioned above, this thesis analyzes and compares the way Park Taewon’s ChunByunPoongKyung and To Hoai’s Que Nguoi depict representative cross sections of Korean and Vietnamese society in the 1930s, as well as the ways these societies transition with the rise of modernity. In addition, this thesis finds that both novels effectively convey sociocultural realities in the specific period by representing the real world objectively through manners and social conditions. In this regard, this thesis sheds new light on the significance of Park Taewon’s ChunByunPoongKyung and To Hoai’s Que Nguoi in the history of literature as novels of manners.
Tiểu thuyết ChunByunPhoongKyung (1938) của Park Tae Won và Quê người (1941) của Tô Hoài đều là những tiểu thuyết phong tục (Novel of manners, ở Hàn Quốc được gọi là “tiểu thuyết thế thái”), với nội dung viết về đời sống sinh hoạt của người dân Hàn Quốc và Việt Nam vào những năm 1930. “Tiểu thuyết phong tục” phản ánh những phong tục và sự thay đổi các khía cạnh của xã hội trong một thời kì nhất định, do đó đóng vai trò lưu giữ và truyền đạt lại cho thời kì sau những đặc điểm về văn hoá và xã hội của các thời kì đã qua. Luận án này tiến hành nghiên cứu so sánh hai tác phẩm ChunByunPhoongKyung và Quê người để tìm ra những điểm giống và khác nhau. Đồng thời, so sánh, phân tích phong tục và thế thái (tình hình xã hội) của Hàn Quốc và Việt Nam những năm 1930 được thể hiện trong hai tác phẩm kể trên.
Luận án này tập trung phân tích về nhân vật, bối cảnh, cấu trúc, phương thức trần thuật và chủ đề của hai tác phẩm. Ngoài ra, tách một chương riêng để so sánh phong tục và thế thái được thể hiện trong hai tác phẩm.
Về mặt nhân vật, với khoảng tám mươi nhân vật trong ChunByunPhoongKyung và khoảng năm mươi nhân vật trong Quê người, cả hai tác phẩm đều có số lượng nhân vật tương đối lớn. Với tuyến nhân vật đa dạng, hai tác phẩm mang điểm chung là đều phản ánh xã hội đương đại có sự tồn tại của cả nghề truyền thống và nghề mới. Nhân vật phụ nữ trong ChunByunPhoongKyung được xây dựng với tính cách cam chịu, thường tuân theo đạo lí truyền thống. Trái lại, nhân vật phụ nữ trong Quê người thường tự quyết định số phận của mình. Chúng tôi cho rằng nguyên nhân của sự khác biệt này là do đặc trưng của xã hội Việt Nam - vị trí và vai trò của phụ nữ tương đối bình đẳng với đàn ông.
Về mặt bối cảnh, ChunByunPhoongKyung viết về cuộc sống đời thường ở ChunByun, Seoul trong một năm, còn Quê người xoay quanh những sự việc xảy ra tại một làng nghề thủ công ở ngoại thành Hà Nội trong khoảng thời gian ba năm. Điểm chung của hai tác phẩm này là đều xuất hiện những không gian có vai trò “gặp gỡ và trao đổi thông tin”. Tuy nhiên, nếu như không gian trong ChunByunPhoongKyung phân biệt giữa nam giới và nữ giới thì trong Quê người lại là không gian mở, không phân biệt nam nữ, cho thấy một đặc điểm xã hội thời bấy giờ của Việt Nam là phụ nữ có thể tự do tham gia vào hoạt động buôn bán.
Về mặt cấu trúc, khi so sánh tám câu chuyện trong ChunByunPhoongKyung với kết cấu picaresque và ba câu chuyện trong Quê người với kết cấu theo trật tự thời gian, điểm giống nhau là cả hai tác phẩm đều chứa nội dung “nghề truyền thống bị mai một” và “hiện tượng rời bỏ quê hương”, đồng thời chỉ ra hậu quả của việc tảo hôn trong chế độ phụ hệ phong kiến. Bên cạnh đó, cả hai tác phẩm cũng đều xây dựng nội dung về việc vượt lên nghịch cảnh của những số phận thời bấy giờ. Song, xét về quan hệ gia đình trong ChunByunPhoongKyung, người phụ nữ thường cam chịu và hi sinh. Còn trong Quê người, người phụ nữ là đối tượng của mối quan hệ bất chính dẫn đến sự tan nát của một gia đình. Đây có thể coi là điểm khác biệt giữa hai tác phẩm.
Về phương thức trần thuật, hai tác phẩm tập trung miêu tả ngoại hình, sử dụng thể văn khẩu ngữ trong hội thoại để thể hiện khách quan hình ảnh đời thường của các nhân vật. ChunByunPhoongKyung sử dụng phương thức “máy quay phim(camera-eye)”. Theo đó, máy quay phim của người kể chuyện di chuyển tự do nên tạo “nhịp điệu sôi động, đầy sức sống”. Khác với phương thức trần thuật trong ChunByunPhoongKyung, Quê người chủ yếu sử dụng các phân cảnh hồi tưởng về quá khứ, miêu tả và giải thích về phong tục làm cho mạch trần thuật chậm lại, nên mang “nhịp điệu chậm và đơn điệu.”.
Về mặt chủ đề, cả hai tác phẩm đều phê phán các hủ tục và việc tảo hôn dưới chế độ phụ hệ phong kiến. Nếu chủ đề chính của ChunByunPhoongKyung là sự đoàn kết và nhân văn của người dân thường thì chủ đề chính của Quê người lại là tình cảm gia đình và sự đoàn kết để vượt qua nghịch cảnh của gia đình.
Trong chương cuối của luận án này, chúng tôi đã chỉ ra các phong tục và thế thái của hai nước trong những năm 1930 được thể hiện trong hai tác phẩm trên các khía cạnh về ăn mặc ở, hôn lễ, tang lễ, sinh sản, phong tục ngày Tết, trò chơi dân gian và lễ hội, tín ngưỡng dân gian v.v... ChunByunPhoongKyung cho thấy sự du nhập các nét văn hoá cận đại vào đời sống của người dân thường tại Seoul và sự thay đổi về mặt nhận thức của họ đối với các nét văn hoá đó. Trái lại, trong Quê người, dù vấp phải sự biến chuyển của xã hội, song các phong tục truyền thống của người dân thường ngoại thành Hà Nội hầu như vẫn được lưu giữ. Có thể nói hai tác phẩm này chính là những “bức tranh phong tục” miêu tả sống động hiện thực xã hội thời bấy giờ.
Với những phân tích và so sánh giữa tiểu thuyết ChunByunPhoongKyung của Park Tae Won và Quê người của Tô Hoài, có thể nắm bắt một phần tình hình xã hội của Hàn Quốc và Việt Nam những năm 1930 trong quá trình chuyển mình sang xã hội cận đại. Bằng cách tái hiện một cách khách quan hiện thực xã hội thông qua các phong tục và thế thái, hai tác phẩm đã thành công trong việc truyền đạt lại những nét văn hoá của xã hội thời kì bấy giờ. Chúng tôi hi vọng thông qua luận án này, ý nghĩa về mặt văn học sử của hai tiểu thuyết phong tục ChunByunPhoongKyung và Quê người đã thêm phần sáng tỏ.
서지정보 내보내기(Export)
닫기소장기관 정보
닫기권호소장정보
닫기오류접수
닫기오류 접수 확인
닫기음성서비스 신청
닫기음성서비스 신청 확인
닫기이용약관
닫기학술연구정보서비스 이용약관 (2017년 1월 1일 ~ 현재 적용)
| 주요 개정내역 | 변경 사유 |
|---|---|
| · 개인정보 처리 목적, 항목 및 법적 근거 수정 · 본인대상정보전송요구권 행사 방법 안내 · 개인정보 보호수준 평가 결과 추가 |
|
한국교육학술정보원은 정보주체의 자유와 권리 보호를 위해 「개인정보 보호법」 및 관계 법령이 정한 바를 준수하여, 적법하게 개인정보를 처리하고 안전하게 관리하고 있습니다. 이에 「개인정보 보호법」 제30조에 따라 정보주체에게 개인정보 처리에 관한 절차 및 기준을 안내하고, 이와 관련한 고충을 신속하고 원활하게 처리할 수 있도록 하기 위하여 다음과 같이 개인정보 처리방침을 수립·공개합니다.
목 차
제1조(개인정보의 처리 목적)
제2조(개인정보의 처리 및 보유 기간)
제3조(처리하는 개인정보의 항목)
제4조(개인정보파일 등록 현황)
제5조(개인정보의 제3자 제공)
제6조(개인정보 처리업무의 위탁)
제7조(개인정보의 파기 절차 및 방법)
제8조(정보주체와 법정대리인의 권리·의무 및 그 행사 방법)
제9조(개인정보의 안전성 확보조치)
제10조(개인정보 자동 수집 장치의 설치·운영 및 거부)
제11조(개인정보 보호책임자)
제12조(개인정보의 열람청구를 접수·처리하는 부서)
제13조(정보주체의 권익침해에 대한 구제방법)
제14조(추가적 이용·제공 판단기준)
제15조(개인정보 보호수준 평가 결과)
제16조(개인정보 처리방침의 변경)
제1조(개인정보의 처리 목적)
제2조(개인정보의 처리 및 보유 기간)
5년
(「전자상거래 등에서의 소비자보호에 관한3년
(「전자상거래 등에서의 소비자보호에 관한
제3조(처리하는 개인정보의 항목)
제4조(개인정보파일 등록 현황)
개인정보파일 검색(privacy.go.kr)| 개인정보파일의 명칭 | 수집·이용 근거 | 수집·이용 목적 | 수집·이용 항목 | 보유·이용기간 |
|---|---|---|---|---|
| [학술연구정보 서비스 이용자 가입정보] |
「개인정보 보호법」 제15조 제1항 제4호(계약 이행) |
회원 서비스 운영 |
ID, 비밀번호, 이름, 생년월일, 신분(직업구분), 이메일, 소속분야, 보호자 성명(어린이회원), 보호자 이메일(어린이회원) |
회원탈퇴시 까지 |
| 「전자상거래 등에서의 소비자보호에 관한 법률」 제6조 및 같은 법 시행령 제6조 |
주문 및 결제 처리 |
ID, 비밀번호, 이름, 주소 |
5년 |
제5조(개인정보의 제3자 제공)
제6조(개인정보 처리업무의 위탁)
제7조(개인정보의 파기 절차 및 방법)
제8조(정보주체와 법정대리인의 권리·의무 및 그 행사 방법)
제9조(개인정보의 안전성 확보조치)
제10조(개인정보 자동 수집 장치의 설치·운영 및 거부)
제11조(개인정보 보호책임자)
| 구분 | 담당자 | 연락처 |
|---|---|---|
| KERIS 개인정보 보호책임자 | 정보보호본부 안재호 |
- 이메일 : jinuk@keris.or.kr - 전화번호 : 053-714-0158 - 팩스번호 : 053-714-0195 |
| KERIS 개인정보 보호담당자 | 개인정보보호부 송진욱 | |
| RISS 개인정보 보호책임자 | 교육학술데이터본부 정광훈 |
- 이메일 : giltizen@keris.or.kr - 전화번호 : 053-714-0149 - 팩스번호 : 053-714-0194 |
| RISS 개인정보 보호담당자 | 학술진흥부 길원진 |
제12조(개인정보의 열람청구를 접수·처리하는 부서)
제13조(정보주체의 권익침해에 대한 구제방법)
제14조(추가적인 이용ㆍ제공 판단기준)
제15조(개인정보 보호수준 평가 결과)
제16조(개인정보 처리방침의 변경)
자동로그아웃 안내
닫기인증오류 안내
닫기귀하께서는 휴면계정 전환 후 1년동안 회원정보 수집 및 이용에 대한
재동의를 하지 않으신 관계로 개인정보가 삭제되었습니다.
(참조 : RISS 이용약관 및 개인정보처리방침)
신규회원으로 가입하여 이용 부탁 드리며, 추가 문의는 고객센터로 연락 바랍니다.
- 기존 아이디 재사용 불가
휴면계정 안내
RISS는 [표준개인정보 보호지침]에 따라 2년을 주기로 개인정보 수집·이용에 관하여 (재)동의를 받고 있으며, (재)동의를 하지 않을 경우, 휴면계정으로 전환됩니다.
(※ 휴면계정은 원문이용 및 복사/대출 서비스를 이용할 수 없습니다.)
휴면계정으로 전환된 후 1년간 회원정보 수집·이용에 대한 재동의를 하지 않을 경우, RISS에서 자동탈퇴 및 개인정보가 삭제처리 됩니다.
고객센터 1599-3122
ARS번호+1번(회원가입 및 정보수정)